Thành viên

Đăng nhập Đăng ký
Đăng tin miễn phí

Công nghiệp hỗ trợ không thể phát triển kiểu 'mạnh ai nấy chạy'

Phương Linh

Cập nhật 21/09/2026 · 9 phút đọc · 4 lượt xem

Chia sẻ
Zalo Facebook
Podcast
Nghe bài viết 6:47 Giọng đọc tổng hợp
0:00 / 6:47

Thay vì từng doanh nghiệp tự phát triển một cách riêng lẻ, Việt Nam cần xây dựng được một "hệ sinh thái" phát triển công nghiệp hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Chuỗi cung ứng toàn cầu đang ngày càng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với hạ tầng công nghiệp, tiêu chuẩn môi trường và tính bền vững. Ảnh: Hoàng Anh.

Những yêu cầu mới cho phát triển

Nếu như trước đây, bài toán phát triển công nghiệp hỗ trợ thường được nhìn từ năng lực của từng doanh nghiệp, sản xuất được linh kiện gì, tỷ lệ nội địa hóa bao nhiêu, có đáp ứng được tiêu chuẩn của doanh nghiệp FDI hay không, thì hiện nay, vấn đề đang được đặt ra ở một cấp độ khác.

Theo bà Trần Thị Thu Hiền, Tổng giám đốc DTJ Industrial, Việt Nam không thể xây dựng một nền công nghiệp hỗ trợ chỉ bằng cách yêu cầu từng doanh nghiệp tự phát triển một cách riêng lẻ.

Muốn hình thành một điểm đến đủ sức thu hút dòng vốn FDI thế hệ mới, doanh nghiệp phải được đặt trong một mạng lưới phát triển mà ở đó mọi nguồn lực, từ năng lượng, nước, vật liệu, logistics, công nghệ, dữ liệu, đến tài chính và hạ tầng đều được chia sẻ và tối ưu. Hay nói cách khác, Việt Nam cần xây dựng được một "hệ sinh thái" cho phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Một cụm công nghiệp là nơi nhiều doanh nghiệp cùng đặt nhà máy, nhưng theo bà Hiền, như vậy chưa đủ để tạo ra một hệ sinh thái. Một hệ sinh thái công nghiệp phải tạo được các dòng liên kết giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với hạ tầng và giữa sản xuất với các dịch vụ hỗ trợ.

Chẳng hạn, nhu cầu điện của doanh nghiệp có thể gắn với nguồn năng lượng sạch; nước thải sau xử lý có thể được tái sử dụng; phụ phẩm hoặc chất thải của doanh nghiệp này có thể trở thành nguyên liệu đầu vào cho doanh nghiệp khác.

Khi nhiều doanh nghiệp cùng liên kết với nhau về hạ tầng, năng lượng, logistics và dịch vụ, chi phí đầu tư có thể được phân bổ trên quy mô lớn hơn, giá trị của tài nguyên được kéo dài thêm nhiều "vòng đời", giúp tối ưu chi phí và nâng cao sức cạnh tranh.

Bà Trần Thị Thu Hiền, Tổng giám đốc DTJ Industrial chia sẻ tại Tại Hội thảo “Hệ sinh thái xanh cho công nghiệp hỗ trợ – Nền tảng thu hút FDI thế hệ mới” do Hiệp hội Công nghiệp Hỗ trợ Việt Nam (VASI), phối hợp cùng DTJ Industrial và Công ty cổ phần NC Network Việt Nam tổ chức. Ảnh: BTC.

Đặt trong bối cảnh hiện nay, khi xu hướng đầu tư quốc tế đang có sự chuyển dịch từ việc tìm kiếm lợi thế về chi phí sang ưu tiên các địa điểm có khả năng cung cấp hạ tầng công nghiệp chất lượng cao, chuỗi cung ứng tại chỗ, nguồn nhân lực phù hợp, năng lực đổi mới công nghệ và điều kiện sản xuất đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường quốc tế, việc liên kết để tạo thành một hệ sinh thái xanh cho công nghiệp hỗ trợ đang trở thành yêu cầu bức thiết cho phát triển.

Ông Chu Xuyên, Phó tổng giám đốc Công ty TNHH Liên hợp Đầu tư Thâm Việt cho rằng, khả năng cung ứng nguyên vật liệu tại chỗ, tiêu chuẩn quản trị môi trường và năng lực kết nối logistics là những ưu tiên hàng đầu khi doanh nghiệp thiết lập cứ điểm sản xuất.

Đồng quan điểm, ông Otsuka Tetsuhisa, Tổng giám đốc Công ty CP NC Network Việt Nam cũng nhấn mạnh về sự cần thiết của một nền tảng kết nối xuyên biên giới giúp các doanh nghiệp tìm kiếm đối tác và tích hợp sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Chia sẻ Tại Hội thảo “Hệ sinh thái xanh cho công nghiệp hỗ trợ – Nền tảng thu hút FDI thế hệ mới”, nằm trong khuôn khổ Triển lãm Giao thương quốc tế về công nghiệp chế tạo (FBC ASEAN 2026), bà Trương Thị Chí Bình, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam (VASI) cho rằng, xu hướng FDI thế hệ mới đang đặt ra những yêu cầu mới đối với Việt Nam.

Theo bà Bình, quá trình tái cấu trúc và đa dạng hóa chuỗi cung ứng toàn cầu đang tạo ra những cơ hội mới để Việt Nam nâng cao vị thế trong mạng lưới sản xuất quốc tế. Tuy nhiên, khả năng thu hút FDI không còn chỉ phụ thuộc vào các ưu đãi đầu tư, mà ngày càng gắn với chất lượng hạ tầng công nghiệp và mức độ hoàn thiện của hệ sinh thái doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, các yêu cầu về sản xuất xanh, sử dụng năng lượng hiệu quả và quản trị môi trường đang trở thành những tiêu chí ngày càng quan trọng đối với các nhà đầu tư quốc tế. Năng lực cung ứng tại chỗ, khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng cũng sẽ quyết định khả năng Việt Nam chuyển từ thu hút FDI về lượng sang nâng cao chất lượng.

Trong bối cảnh đó, bà Bình cho rằng, Việt Nam có cơ hội gia tăng tỷ lệ nội địa hóa, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước.

Tuy nhiên, để tận dụng được cơ hội này, Việt Nam vẫn cần giải quyết một loạt vấn đề về hạ tầng, năng lực cung ứng, tiêu chuẩn sản xuất xanh và khả năng kết nối giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp nội địa, qua đó nâng cao chất lượng và hiệu quả thu hút dòng vốn FDI thế hệ mới.

Đồng quan điểm, theo ông Phạm Thanh Bình, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến, thông tin và hỗ trợ đầu tư phía Bắc, Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính, Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, cũng đang đặt ra những định hướng, chính sách và các giải pháp thu hút FDI thế hệ mới, công nghệ cao và có giá trị gia tăng lớn.

Theo đó, một trong những vấn đề được đặt ra là tăng cường liên kết giữa khu vực doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, qua đó thúc đẩy sự hình thành và phát triển hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ phục vụ các ngành sản xuất chủ lực.

Cùng với đó, việc cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh của các địa phương cũng là yếu tố quan trọng để Việt Nam gia tăng sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế.

Quản trị để tăng khả năng kết nối, "cộng hưởng" sức mạnh

Phát triển hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ xanh là yêu cầu tất yếu, tuy nhiên, điều này cũng đang đặt ra một nghịch lý, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn là lực lượng quan trọng của công nghiệp hỗ trợ, thường lại là nhóm khó đầu tư nhất cho những hệ thống năng lượng, dữ liệu, môi trường và quản trị mới.

Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận mặt bằng sản xuất phù hợp, hạ tầng kỹ thuật, công nghệ xử lý môi trường, phòng thí nghiệm, dịch vụ logistics, nguồn nhân lực và các tiêu chuẩn kỹ thuật của các tập đoàn quốc tế.

Đưa ra các giải pháp hạ tầng công nghiệp đáp ứng nhu cầu của dòng vốn FDI thế hệ mới, bà Hiền đề xuất mô hình hệ sinh thái hạ tầng xanh cho công nghiệp hỗ trợ Việt Nam theo hướng phát triển các khu, cụm công nghiệp có hạ tầng đồng bộ, dịch vụ dùng chung và khả năng kết nối hiệu quả giữa các doanh nghiệp trong chuỗi sản xuất.

Định hướng này nhằm giải quyết một số vấn đề phổ biến của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, như chi phí đầu tư hạ tầng cao, khó tiếp cận dịch vụ kỹ thuật chuyên sâu, thiếu mặt bằng sản xuất phù hợp và hạn chế trong kết nối với các doanh nghiệp FDI.

Theo đó, hệ thống nhà xưởng trong khu công nghiệp sẽ được dùng chung nhằm cung cấp không gian sản xuất linh hoạt, phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp công nghiệp và các nhà cung ứng mới tham gia chuỗi sản xuất.

Thứ hai, hệ thống xử lý nước thải trong khu công nghiệp cũng được quy hoạch theo hướng tập trung, hướng tới kiểm soát môi trường sản xuất, sử dụng hiệu quả tài nguyên và hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu về môi trường, phát triển xanh và bền vững.

Thứ ba là dùng chung hệ thống Logistics, nhằm tăng cường kết nối vận chuyển, kho bãi, cảng biển, trung tâm phân phối và các tuyến giao thông liên vùng, góp phần giảm chi phí logistics cho doanh nghiệp.

Thứ tư là dùng chung dịch vụ pháp lý và kế toán, giúp doanh nghiệp tiếp cận các dịch vụ tư vấn pháp lý, kế toán, thuế, đầu tư và quản trị doanh nghiệp với chi phí phù hợp.

Thứ năm là xây dựng cơ sở dữ liệu và nền tảng kết nối doanh nghiệp, nhà đầu tư, đơn vị phát triển hạ tầng, nhà cung ứng và khách hàng trong chuỗi giá trị công nghiệp.

Theo bà Hiền, mô hình hệ sinh thái hạ tầng xanh hướng tới việc tạo ra môi trường sản xuất có tính liên kết cao, giúp doanh nghiệp giảm chi phí đầu tư và vận hành thông qua các dịch vụ, hạ tầng dùng chung, nâng cao năng lực tiếp cận công nghệ, kiểm định và tiêu chuẩn quốc tế.

Đây là định hướng phát triển cần được triển khai trên cơ sở phù hợp với quy hoạch, pháp luật, nhu cầu thị trường và điều kiện thực tế của từng khu, cụm công nghiệp nhằm thúc đẩy hình thành các khu, cụm công nghiệp hỗ trợ có tính chuyên môn hóa và liên kết cao.

Đồng thời, mô hình này cũng giúp tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ và các tập đoàn FDI, phát triển sản xuất xanh, sử dụng hiệu quả tài nguyên và kiểm soát môi trường, nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.